Tăng trưởng xanh từng được nhắc đến như một định hướng mang tính khuyến nghị, gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi các tiêu chuẩn môi trường, phát thải và truy xuất nguồn gốc trở thành điều kiện bắt buộc của thị trường, “xanh” không còn là lựa chọn mềm. Nó đang chuyển hóa thành một năng lực phát triển cứng, quyết định khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh tế.
Điểm cốt lõi của chuyển dịch này là sự thay đổi trong cách hiểu về phát triển. "Phát triển" không còn được đo bằng tăng trưởng sản lượng đơn thuần, mà bằng khả năng duy trì cân bằng giữa kinh tế, môi trường và sinh kế trong dài hạn. Tăng trưởng xanh, vì thế, dần trở thành câu chuyện về năng lực quản trị quốc gia, nơi dữ liệu, khoa học và thể chế đóng vai trò trung tâm.
    |
 |
| Chuyên gia trao đổi về những định hướng cho tăng trưởng xanh. Ảnh: Bảo Thắng. |
Khi tăng trưởng xanh trở thành bài toán đo lường và quản trị
Trong nhiều năm, tăng trưởng xanh thường được tiếp cận như một mục tiêu chính sách mang tính định hướng. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới, khái niệm này buộc phải gắn với những câu hỏi rất cụ thể. Đo bằng gì, ai đo, dữ liệu đó có giá trị pháp lý và thị trường ra sao?
Thực tế cho thấy, các rào cản kỹ thuật về môi trường, an toàn thực phẩm và phát thải khí nhà kính đang ngày càng chi phối mạnh mẽ thương mại nông sản và hàng hóa. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng xanh không thể tồn tại nếu thiếu năng lực khoa học để đo đạc, phân tích và kiểm chứng. Không có dữ liệu tin cậy, mọi cam kết xanh đều dễ rơi vào hình thức!
Tại Hội nghị Dấu ấn hành trình 5 năm kiến tạo tăng trưởng xanh, tổ chức tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam chiều 3/2, PGS.TS Nguyễn Công Tiệp, Phó Giám đốc Học viện nhìn nhận: “Tăng trưởng xanh không thể chỉ nói bằng ý chí hay khẩu hiệu. Nó phải đo được, kiểm chứng được và nhân rộng được”. Tăng trưởng xanh không còn là câu chuyện của tầm nhìn, mà là câu chuyện của hệ thống, từ đo lường môi trường, tiêu chuẩn, đến quản trị dựa trên bằng chứng.
Theo logic đó, khoa học không đứng ngoài sản xuất, mà trở thành nền tảng cho các quyết định kinh tế. Phân tích chất lượng đất, nước, không khí; kiểm soát dư lượng trong nông sản; kiểm kê phát thải khí nhà kính. Tất cả đều là những cấu phần không thể thiếu của một nền kinh tế xanh thực chất. Khi dữ liệu môi trường được xem như một dạng hạ tầng, tăng trưởng xanh mới có cơ sở để vận hành.
    |
 |
| TS Hoàng Hiệp nêu một số nhiệm vụ trọng tâm của Viện thời gian tới. Ảnh: Bảo Thắng. |
Câu chuyện thị trường carbon cho thấy rõ sự chuyển dịch từ cam kết sang năng lực. Trên danh nghĩa, tín chỉ carbon được nhìn nhận như một công cụ tài chính mới. Nhưng về bản chất, đây là bài toán đòi hỏi năng lực kiểm kê, đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) phát thải theo chuẩn mực quốc tế. Không có năng lực này, thị trường carbon chỉ tồn tại trên giấy.
TS Hoàng Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tăng trưởng xanh (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) bổ sung: “Tín chỉ carbon không phải mục tiêu cuối cùng. Nó chỉ là phần thưởng bổ sung cho quá trình giảm phát thải thực chất".
Cách tiếp cận này đặt tăng trưởng xanh trở lại đúng vị trí của nó, không phải chạy theo lợi ích ngắn hạn, mà xây dựng năng lực giảm phát thải và quản trị tài nguyên từ gốc. Nếu nền tảng sản xuất không thay đổi, mọi lợi ích tài chính từ “xanh” đều mang tính tạm thời.
Từ quan điểm ấy, trọng tâm của tăng trưởng xanh phải đặt vào việc xây dựng năng lực từ gốc. Trước hết là nâng tầm các dịch vụ hỗ trợ “xanh hóa” cho doanh nghiệp và địa phương, từ đánh giá hiện trạng môi trường, xây dựng dữ liệu phục vụ quản trị ESG đến tư vấn lộ trình chuyển đổi xanh phù hợp từng ngành, từng lĩnh vực, với yêu cầu ngày càng cao về minh bạch và số hóa.
Năng lực kiểm kê khí nhà kính và tham gia thị trường carbon cũng cần được phát triển theo hướng thực chất, gắn với các mô hình sản xuất mang lại đồng lợi ích về môi trường, sinh kế và năng suất. Trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức về chi phí và quy trình, ông Hiệp cho rằng chỉ khi giảm phát thải được thực hiện bằng giải pháp kỹ thuật và quản trị hiệu quả, tín chỉ carbon mới thực sự có ý nghĩa, thay vì trở thành mục tiêu ngắn hạn.
Nông nghiệp sinh thái và công nghệ: nền tảng dài hạn của tăng trưởng xanh
Nếu đo lường và quản trị là điều kiện cần, thì câu hỏi tiếp theo chính là, tăng trưởng xanh sẽ dựa trên nền tảng sản xuất nào? Tranh luận giữa nông nghiệp sinh thái và công nghệ cao, vì thế, thường bị đẩy về thế đối lập. Nhưng GS.TS Trần Đức Viên, Chủ tịch Hội đồng Khoa học & Đào tạo (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) nêu một quan điểm khác tại phiên tọa đàm về định hướng phát triển xanh giai đoạn tới.
“Nông nghiệp sinh thái với công nghệ mới không có đối đầu. Công nghệ là công cụ, còn sinh thái là nền tảng, là linh hồn của sản xuất”, ông nói và nhấn mạnh, không phủ nhận vai trò của công nghệ. Vấn đề là cần đặt công nghệ vào đúng vị trí, phục vụ cho một hệ sinh thái lành mạnh, chứ không thay thế hay áp đảo hệ sinh thái.
Trong dài hạn, giá trị của nông nghiệp sinh thái không nằm ở việc tối đa hóa sản lượng tức thời, mà ở khả năng duy trì cân bằng sinh học, tái tạo tài nguyên và thích ứng với biến động. Một hệ sản xuất thuận thiên, dựa trên sinh thái có thể chậm hơn trong ngắn hạn, nhưng ổn định hơn và ít tổn thương hơn trước những cú sốc về khí hậu và thị trường.
    |
 |
| GS Trần Đức Viên khuyến nghị phương thức sản xuất thân thiện với tự nhiên. Ảnh: Bảo Thắng. |
Điều quan trọng hơn, là trong nền tảng của nông nghiệp sinh thái có bao gồm tri thức bản địa. Những mô hình canh tác truyền thống tồn tại bền vững trong thời gian dài không phải vì lạc hậu, mà vì chúng phù hợp với điều kiện tự nhiên và dựa trên logic tuần hoàn. Trong bối cảnh hiện nay, công nghệ không phủ nhận tri thức đó, mà có thể giúp đo lường, chuẩn hóa và tích hợp vào chuỗi giá trị hiện đại.
Tăng trưởng xanh, từ góc nhìn này, không phải là sự đoạn tuyệt với quá khứ, mà là quá trình tái cấu trúc. Khi môi trường được nhìn nhận như một yếu tố tạo giá trị, thậm chí có thể quy đổi thành lợi ích kinh tế thông qua các cơ chế như tín chỉ carbon, sinh thái không còn là gánh nặng chi phí, mà trở thành nền tảng cho phát triển dài hạn.
Như GS Trần Đức Viên khẳng định: “Môi trường có thể trở thành tiền, như gạo phát thải thấp có thể bán với giá 850 USD/tấn", phát triển và tăng trưởng trong bối cảnh mới cần tổ chức lại mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trên cơ sở hiểu biết, đo lường và trách nhiệm.
Theo TS Nguyễn Sỹ Linh, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, cách tiếp cận giảm phát thải trong nông nghiệp cần được đặt lại từ gốc.
“Giảm được chi phí đầu vào, đặc biệt là phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, đã đem lại lợi ích trực tiếp cho môi trường”, ông Linh phân tích và chỉ rõ những ưu điểm này đã được thể hiện rõ nét trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang được triển khai tại ĐBSCL.
Bảo Thắng - Nông nghiệp và Môi trường