Theo TS. Vũ Duy Hoàng, tưới ướt - khô xen kẽ giúp giảm chi phí, giữ năng suất; còn tín chỉ các-bon là giá trị tiềm năng, cần thêm điều kiện để hiện thực hóa

Để làm rõ những lợi ích này cũng như điều kiện áp dụng trong thực tế, phóng viên báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Vũ Duy Hoàng, Phó Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp sinh thái và Đào tạo nghề, thành viên Nhóm nghiên cứu mạnh Công nghệ canh tác cây trồng bền vững, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

TS. Vũ Duy Hoàng, Phó Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp sinh thái và Đào tạo nghề (đeo kính) cùng cán bộ Trung tâm và Hợp tác xã Minh Thuận (xã Minh Tân, tỉnh Ninh Bình) kiểm tra, đánh giá sinh trưởng lúa trong mô hình canh tác lúa giảm phát thải. Ảnh: NVCC.

Nhiều nông dân quen duy trì nước ngập trên ruộng lúa. Vì sao tưới ướt - khô xen kẽ có thể giảm phát thải mà vẫn bảo đảm năng suất, thưa ông?

Khi ruộng ngập nước thường xuyên, đất ở trạng thái yếm khí, tạo điều kiện cho vi sinh vật sinh mê-tan hoạt động. Tưới ướt - khô xen kẽ (AWD) tạo các giai đoạn đất được thông khí, qua đó làm gián đoạn quá trình hình thành khí mê-tan (CH₄) và giảm phát thải. Điều quan trọng là AWD không có nghĩa để ruộng khô kéo dài, mà là luân phiên giữa giai đoạn có nước và giai đoạn mực nước hạ xuống dưới mặt ruộng trong phạm vi an toàn. Việc điều tiết phải phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, tránh để cây thiếu nước ở thời kỳ nhạy cảm như làm đòng và trỗ.

Trong nghiên cứu trên lúa gieo thẳng tại ba địa điểm ở Ninh Bình năm 2025, năng suất ruộng AWD đạt 6,58 tấn/ha ở vụ Xuân và 6,17 tấn/ha ở vụ Mùa, so với 6,28 và 5,53 tấn/ha ở ruộng ngập thường xuyên. Kết quả cho thấy giảm phát thải CH₄ có thể đi cùng duy trì năng suất khi áp dụng đúng kỹ thuật.

Nghiên cứu của ông cho thấy vụ mùa có tỷ lệ giảm phát thải thấp hơn vụ Xuân, nhưng lượng khí giảm được lại lớn hơn. Ông có thể giải thích điểm thú vị này?

Cần nhìn đồng thời tỷ lệ giảm và lượng phát thải thực tế giảm được. Trong vụ mùa 2025, nhiệt độ cao hơn, mưa nhiều hơn và thời gian giữa hai vụ ngắn hơn có thể thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, làm phát thải CH₄ ở ruộng ngập thường xuyên cao hơn vụ xuân.

Vì mức phát thải ban đầu cao hơn nên dù tỷ lệ giảm thấp hơn, lượng phát thải giảm được nhờ AWD vẫn lớn hơn. Quy đổi sang CO₂ tương đương, mức giảm đạt khoảng 3,41 tấn/ha/vụ ở vụ xuân và khoảng 4,25 tấn/ha/vụ ở vụ mùa. Điều này cho thấy khi đánh giá hiệu quả giảm phát thải hay tiềm năng tín chỉ các-bon, cần dựa vào lượng giảm thực tế theo từng mùa vụ và vùng sản xuất, không chỉ nhìn tỷ lệ phần trăm.

TS. Vũ Duy Hoàng chia sẻ với phóng viên báo Nông nghiệp và Môi trường bên lề Hội thảo quốc tế AgriVision 2026 do Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 8/10. Ảnh: Mai Đan.

Theo ông, khi chưa có tiền từ bán tín chỉ các-bon, người trồng lúa được hưởng lợi gì đủ rõ để thay đổi cách làm?

Lợi ích dễ thấy nhất là giảm chi phí trong khi năng suất vẫn được duy trì. Qua các nghiên cứu và mô hình ở một số tỉnh phía Bắc, số lần tưới có thể giảm trung bình khoảng 2-3 lần mỗi vụ, qua đó giảm công tưới và chi phí bơm nước.

Khi áp dụng phù hợp, AWD còn giúp bộ rễ phát triển tốt hơn, cây cứng hơn, nền ruộng chắc hơn và thuận lợi cho cơ giới hóa. Ở một số mô hình, nông dân cũng ghi nhận áp lực sâu bệnh thấp hơn và giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật. Một số nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận năng suất cao hơn khoảng 6-20% so với đối chứng, tùy giống và địa bàn. Vì vậy, lợi ích trước mắt nên được nhìn từ hiệu quả ngay trên đồng ruộng: giảm chi phí, sử dụng nước hiệu quả và duy trì năng suất. Thu nhập từ tín chỉ các-bon là lợi ích tiềm năng.

Thưa ông, muốn áp dụng trên diện rộng, đâu là điều kiện quan trọng nhất để nông dân thực hiện thuận lợi?

Phương pháp này có thể áp dụng ở nhiều vùng nếu điều kiện phù hợp, nhưng yếu tố quan trọng nhất là khả năng chủ động điều tiết nước. Những vùng sản xuất tập trung, có hệ thống thủy lợi phù hợp, đơn vị quản lý nước và hợp tác xã cùng tham gia sẽ thuận lợi hơn khi triển khai trên diện rộng.

Nếu từng hộ muốn rút nước nhưng hệ thống vẫn cấp nước theo cách cũ thì rất khó thực hiện đúng quy trình. Vì vậy, cần phối hợp giữa người trồng lúa, hợp tác xã, đơn vị thủy lợi và chính quyền địa phương để thống nhất lịch cấp, rút nước theo từng giai đoạn sinh trưởng.

Bên cạnh đó, cần giúp người dân hiểu đúng AWD, biết khi nào nên để ruộng khô và khi nào cần tưới lại. Muốn nhân rộng, không chỉ cần quy trình kỹ thuật tốt mà còn cần quản lý nước đồng bộ, tổ chức sản xuất phù hợp và sự đồng thuận của người dân.

Người dân cần hiểu đúng AWD. Ảnh:Phương Linh.

Qua khảo sát tại một số vùng trồng lúa theo phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ, phóng viên nhận thấy nông dân mong có đầu ra tốt hơn và thêm thu nhập từ tín chỉ các-bon. Theo ông, cần làm gì để kỳ vọng ấy trở thành lợi ích thực tế?

Việt Nam đã ban hành quy trình thí điểm MRV cho lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long; Nghị định 112/2026/NĐ-CP cũng tạo thêm cơ sở pháp lý cho việc trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon. Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng tham gia mô hình giảm phát thải chưa đồng nghĩa với được cấp tín chỉ các-bon. Muốn hình thành tín chỉ, lượng giảm phát thải phải được lượng hóa theo phương pháp được công nhận, đáp ứng yêu cầu đo đạc, báo cáo và thẩm định, cùng các yêu cầu của cơ chế tín chỉ.

Việc này cũng khó thực hiện hiệu quả nếu từng hộ làm riêng lẻ. Cần có hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc đơn vị phát triển dự án làm đầu mối tổ chức sản xuất, quản lý dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ và bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch cho người dân.

Trước mắt, lợi ích thiết thực nhất vẫn là tiết kiệm chi phí, sử dụng nước hiệu quả và duy trì năng suất. Tín chỉ các-bon nên được xem là nguồn giá trị bổ sung trong tương lai, khi các điều kiện kỹ thuật, pháp lý và thị trường được hoàn thiện.

Trân trọng cảm ơn ông!

Mai Đan - Phương Linh

https://nongnghiepmoitruong.vn/