Bảy mươi năm qua, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định vị thế là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hàng đầu của đất nước trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản và phát triển nông thôn. Công tác đào tạo của Học viện luôn tiên phong trong đổi mới nhằm đáp ứng sứ mạng cung cấp nguồn nhân lực tinh hoa phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.

1. Dấu ấn về hành trình bứt phá trong quy mô và tầm vóc đào tạo

- Thời kỳ đầu thành lập: Khoá 1 với 467 sinh viên vào học 4 ngành đào tạo đầu tiên là Trồng trọt, Chăn nuôi - Thú y, Lâm khoa và Cơ điện nông nghiệp; sinh viên được tuyển sinh từ tháng 9, khai giảng vào đúng ngày 12 tháng 10 năm 1956. Thầy, trò giảng dạy và học tập trong hoàn cảnh cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn theo tinh thần 'Học đi đôi với hành', 'Thực túc binh cường'.

- Đóng góp vào phát triển hệ thống khối trường nông – lâm – ngư nghiệp cả nước: Học viện là 'cội nguồn' và 'người anh cả' đã chia sẻ nguồn lực cán bộ, cơ sở vật chất để thành lập nên nhiều trường đại học tên tuổi như Đại học Lâm nghiệp (1964), Đại học Thủy sản - nay là Đại học Nha Trang (1966), Đại học Nông nghiệp II - nay là Đại học Nông lâm Thái Nguyên (1967), Đại học Nông nghiệp III - nay là Đại học Nông lâm Huế (1970) và tăng cường hàng trăm cán bộ quản lý cho các trường đại học phía Nam sau năm 1975.

leftcenterrightdel
 Giảng đường mái lá đầu tiên tại làng Quỳnh Đô, xã Đại Hưng, huyện thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Đại Thanh - Hà Nội) 
leftcenterrightdel
Sinh viên khóa 11 vừa chăn bò cho Trại thực tập của trường, vừa tranh thủ học tập tại nơi sơ tán (Đoỏng Pán – Cao Bằng) - 1967  

- Quy mô đào tạo hiện đại và tỷ lệ việc làm ấn tượng: Trong giai đoạn tự chủ đại học và tái cấu trúc bộ máy bứt phá (2015 – 2026), Học viện khẳng định vị thế trường đại học trọng điểm quốc gia. Đến năm 2026, quy mô đào tạo của Học viện duy trì ổn định ở mức gần 35.000 người học thuộc 56 ngành đào tạo trình độ đại học, 18 ngành thạc sĩ và 19 ngành tiến sĩ. Chất lượng đầu ra của người học không ngừng nâng cao, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 1 năm tốt nghiệp đạt trên 97%, các ngành thuộc khối công nghệ cao, thú y, công nghệ sinh học đạt tỷ lệ 100%.

- Đóng góp nguồn nhân lực chuyên sâu cho đất nước: Học viện đã đào tạo cho đất nước trên 150.000 kỹ sư, cử nhân; hơn 12.000 thạc sĩ và gần 700 tiến sĩ. Cơ cấu đào tạo phát triển liên tục từ đơn ngành thành đa ngành, đa lĩnh vực. Hầu hết cán bộ chủ chốt, các nhà khoa học hàng đầu, chủ doanh nghiệp nông nghiệp lớn, cùng đông đảo lãnh đạo từ cấp Trung ương, Bộ, Ngành đến các địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đều trưởng thành từ Học viện.

2. Dấu ấn về đổi mới chương trình và phương thức quản lý đào tạo

- Đổi mới phương thức đào tạo: Lịch sử cải cách phương thức giảng dạy của Học viện đã trai qua 3 giai đoạn cải cách mang tính bước ngoặt thể chế (1) Giai đoạn Niên chế (1956 - 1989): Đào tạo theo niên chế cứng, lớp học cố định, chương trình đóng khung và tập trung vào các môn lý thuyết cơ bản và thực tập tay nghề chuyên sâu. (2) Giai đoạn Đào tạo 2 giai đoạn (1990 - 2007): Giai đoạn I - Giáo dục đại cương và Giai đoạn II - Giáo dục chuyên nghiệp – tạo cơ hội mở rộng quy mô, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức cơ sở ngành cho người học. Giai đoạn Học chế Tín chỉ và chuyển đổi số (2008 - nay): Sinh viên được chủ động xây dựng lộ trình học tập, rút ngắn hoặc kéo dài thời gian đào tạo thông qua tích lũy tín chỉ linh hoạt và học cùng lúc hai chương trình đại học (bằng kép). Hệ thống phần mềm quản trị đào tạo trực tuyến (Edusoft/VNUA Portal) được triển khai; lớp học thông minh, đào tạo trực tuyến được thực hiện.

- Phát triển Chương trình đào tạo tiên tiến, chất lượng cao và quốc tế hóa: Học viện (1) Tiếp nhận công nghệ đào tạo từ Hoa Kỳ thông qua Sử dụng toàn bộ giáo trình, công nghệ giảng dạy từ các trường đại học danh tiếng như Đại học California, Davis (Hoa Kỳ) và Đại học Wisconsin, Madison (Hoa Kỳ); mở các ngành đào tạo tiên tiến bằng Tiếng Anh như Khoa học cây trồng tiên tiến, Bác sĩ Thú y quốc tế, Quản trị kinh doanh nông nghiệp quốc tế, Công nghệ sinh học chất lượng cao... (2) Liên kết cấp song bằng và cơ hội hội nhập toàn cầu: Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo cấp song bằng (Dual Degrees) với các đối tác hàng đầu như Đại học Kyushu (Nhật Bản), Đại học Chungnam (Hàn Quốc), Đại học Liege (Bỉ), Đại học Wageningen (Hà Lan)... Sinh viên nhận được hàng trăm học bổng toàn phần thạc sĩ, tiến sĩ tại Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… được nhận bằng cử nhân/kỹ sư quốc tế.

3. Dấu ấn đột phá đào tạo sau đại học và phát triển nhân lực trình độ cao

- Đào tạo Nghiên cứu sinh từ năm 1977: Ngày 11/05/1977, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 97/TTg giao nhiệm vụ cho Trường Đại học Nông nghiệp I chính thức đào tạo Nghiên cứu sinh (trình độ Tiến sĩ), góp phần khẳng định vị thế học thuật đỉnh cao của Học viện.

- Hệ thống 18 ngành thạc sĩ và 19 ngành tiến sĩ chuyên sâu: Học viện xây dựng và vận hành hệ thống đào tạo sau đại học quy mô bậc nhất cả nước trong lĩnh vực nông nghiệp, gồm 18 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ và 19 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ; quy mô học viên cao học duy trì từ 730 – 830 người và quy mô nghiên cứu sinh duy trì từ 100 – 130 người.

- Chuẩn mực học thuật WoS/Scopus đối với trình độ tiến sĩ: Học viện áp dụng các chuẩn mực học thuật cao, theo đó nghiên cứu sinh có bài báo khoa học công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục WoS/Scopus (Q1, Q2, Q3) hoặc các tạp chí chuyên ngành uy tín trong nước.

leftcenterrightdel
 Lễ trao bằng tốt nghiệp đại học hệ chính quy năm 2024

4. Dấu ấn kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn hoá theo tiêu chuẩn quốc tế

- Kiểm định cấp Cơ sở Giáo dục đại học: Học viện đã hoàn thành kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học Chu kỳ 1 (năm 2017) và Chu kỳ 2 (năm 2022) đạt kết quả xuất sắc với 94,56% số tiêu chí đạt chuẩn theo Bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo với 10 chương trình đào tạo và được Trung tâm Kiểm định Chất lượng giáo dục cấp Giấy chứng nhận Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học.

- Kiểm định cấp Chương trình đào tạo (Chuẩn Quốc gia & AUN-QA): Học viện đã có 8 chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định quốc tế AUN-Qa gồm Khoa học cây trồng, Bác sĩ thú y, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sinh học, Quản trị kinh doanh, Quản lý đất đai, Kỹ thuật cơ khí và Nông nghiệp sinh thái.

5. Dấu ấn đa dạng hoá cơ cấu ngành nghề và đáp ứng yêu cầu phát triển xanh, số

- Định hướng mở ngành đáp ứng Cách mạng Công nghiệp 4.0: Đón đầu xu thế chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp thông minh và phát triển xanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã chủ động mở rộng và hiện đại hóa danh mục 56 ngành đào tạo trình độ đại học.

- Tích hợp liên ngành giữa Nông nghiệp sinh thái với Công nghệ và Kinh tế: Bên cạnh các ngành truyền thống mang thương hiệu quốc gia như Thú y, Chăn nuôi, Khoa học cây trồng, Bảo vệ thực vật, Nuôi trồng thủy sản, Học viện đã phát triển mạnh mẽ các ngành công nghệ, kỹ thuật và dịch vụ phụ trợ như: Công nghệ thông tin, Trí tuệ nhân tạo và Khoa học dữ liệu, Nông nghiệp thông minh, Công nghệ tài chính (Fintech), Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng nông sản, Thương mại điện tử, Công nghệ kỹ thuật ô tô, Cơ điện tử, Công nghệ sinh học, Môi trường và Năng lượng tái tạo, Du lịch sinh thái và Phát triển nông thôn. Trong đó quy mô lớn nhất thuộc về nhóm ngành công nghệ, kinh tế và sinh học (chiếm gần 33% quy mô đào tạo), nhóm ngành truyền thống duy trình mức trên 28%.

Thành tựu và đột phá trong công tác đào tạo qua 70 năm là minh chứng sinh động nhất cho bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên của tập thể cán bộ, giảng viên và sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Trên nền tảng đó, Học viện đang hướng tới tương lai với Đề án phát triển đạt nhóm Top châu Á theo Quyết định số 1612/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác đào tạo của Học viện sẽ tiếp tục đổi mới toàn diện, lấy người học làm trung tâm, lấy chất lượng kiểm định quốc tế làm thước đo, kiến tạo nguồn nhân lực tinh hoa phụng sự đất nước trong kỷ nguyên mới.

Ban TCCB